Bảo hiểm nhân thọ là gì? lợi ích bảo hiểm nhân thọ ra sao? quyền lợi bảo hiểm nhân thọ có được đảm bảo khi tham gia,? các loại bảo hiểm nhân thọ hiện nay gồm có mấy loại? bồi thường bảo hiểm nhân thọ bao gồm những thủ tục gì?

Bảo hiểm là gì?

Bảo hiểm là một cách thức trong quản trị rủi ro, thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro. Được sử dụng để đối phó với những rủi ro có tổn thất. Thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng,… Và được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng. Từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí chi trả. Nó là hình thức chuyển giao rủi ro. Mua bảo hiểm thực chất là mua sự an tâm, là đổi lấy cái sự không chắc chắn. Có khả năng xảy ra thiệt hại bằng sự chắc chắn thông qua việc bù đắp bằng tài chính.

Vậy Bảo hiểm nhân thọ là gì?

Các loại Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ cho trường hợp Người được bảo hiểm sống hoặc chết. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp bảo hiểm có thể chi trả quyền lợi cho dù có hay không xảy ra sự kiện rủi ro.

BHNT đóng vai trò là một kế hoạch tài chính trọn đời. Bảo vệ tài chính gia đình khỏi những rủi ro trong cuộc sống. Tạo lập một quỹ tiết kiệm khi đáo hạn, hưu trí khi về già.

Nguyên lí hoạt động của bảo hiểm nhân thọ

Nguyên lý hoạt động của BHNT thực chất là việc hình thành một quỹ. (Quỹ dự phòng tài chính) từ tiền phí của người tham gia. Sau đó quỹ này được dùng để chi trả quyền lợi nếu người mua bảo hiểm gặp rủi ro. Phần tiền nhàn rỗi trong quỹ sẽ được mang đi đầu tư sinh lời. Và cuối cùng trả lại khi đáo hạn hợp đồng.

Phí tham gia của khách hàng sau khi trừ chi phí khai thác. Thiết lập hợp đồng ban đầu sẽ được đưa vào Quỹ bảo hiểm.

Số tiền nhàn rỗi trong Quỹ bảo hiểm được mang đi đầu tư tài chính nhằm sinh lời.

Hàng tháng, công ty bảo hiểm sẽ trích lập một phần tiền từ Quỹ bảo hiểm. Để bồi thường cho những khách hàng gặp rủi ro. Chi trả chi phí quản lý, vận hành hợp đồng cho người tham gia.

Sau này, khi đáo hạn hợp đồng toàn bộ số tiền còn lại trong Quỹ bảo hiểm sẽ được trả lại khách hàng gọi là Giá trị hoàn lại.

Quỹ Bảo hiểm không những đóng vai trò là quỹ dự phòng tài chính nhằm chi trả quyền lợi khi người tham gia gặp rủi ro. Mà còn giúp họ có một khoản tích lũy khi đáo hạn hợp đồng.

Lợi ích của bảo hiểm nhân thọ

Có thể tóm gọn đó là: Bảo vệ toàn diện và Bảo vệ trọn đời.

Bảo vệ toàn diện

Bảo hiểm toàn diện là một giải pháp để bảo vệ người tham gia trước mọi rủi ro. Có thể phân quyền lợi của bảo hiểm nhân thọ thành: Quyền lợi bảo vệ và quyền lợi tích lũy.

Quyền lợi bảo vệ:

Quyền lợi sinh mạng:

Đây là quyền lợi chính trong mọi sản phẩm khi được bồi thường bảo hiểm nhân thọ. Quyền lợi sinh mạng không có nghĩa là việc “đánh cước” tính mạng của con người bằng tiền. Sự nhân văn của nó nằm ở chỗ. Khoản tiền bồi thường sẽ được sử dụng để đảm bảo cuộc sống của những phụ thuộc còn sống.

Ví dụ như: Con cái đang tuổi ăn học phụ thuộc vào cha mẹ. Giảm gánh nặng tài chính cho người vợ/chồng, phụ cấp cho cha mẹ tuổi già…

Quyền lợi bệnh hiểm nghèo:

Sẽ chi trả cho người mua trong trường hợp mắc các căn bệnh hiểm nghèo. Theo số tiền bảo hiểm đã xác định từ trước trong hợp đồng. Cũng là một khoản hỗ trợ tài chính, bệnh nhân. Có toàn quyền sử dụng số tiền theo nhiều mục đích khác nhau.

Thương tật (Mất khả năng lao động). Thương tật (Mất khả năng lao động vĩnh viễn) của những người trụ cột. Sẽ ảnh hưởng đến khả năng tạo ra thu nhập cho cả gia đình. Do đó, quyền lợi này có chức năng hỗ trợ một phần thu nhập cho người được bồi thường bảo hiểm nhân thọ. Chẳng may bị tai nạn hoặc bệnh tật dẫn đến thương tật.

Chăm sóc y tế:

Chi phí y tế ngày càng đắt đỏ do giá dịch vụ, thuốc men ngày càng tăng. Hay khi điều trị tại các cơ sở y tế có chất lượng cao. Quyền lợi chăm sóc y tế sẽ hỗ trợ khách hàng các chi phí chữa bệnh cần thiết. Về mặt y khoa, giảm bớt gánh nặng các ca phẫu thuật chi phí lớn, điều trị các căn bệnh hiểm nghèo…

Quyền lợi tích lũy:

Khi đáo hạn hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, người mua được nhận về một khoản tiền gọi là Giá trị hoàn lại. Ngày nay, do nhu cầu phát sinh từ phía khách hàng, khoản tiền hoàn lại được thiết kế như một khoản tích lũy học vấn cho con. Tiết kiệm hoặc hưu trí tùy theo mục đích sử dụng của người mua được lợi ích bảo hiểm nhân thọ.

Bảo vệ trọn đời

Có thể thấy rằng, ở mỗi cột mốc cuộc đời, con người đều có những nhu cầu bảo vệ và tích lũy khác nhau. Đặc biệt phát sinh nhiều vào độ tuổi từ 23 – 60 tuổi. Do đó, với tính chất dài hạn. Các loại Bảo hiểm nhân thọ đóng vai trò bảo vệ trọn đời cho người tham gia. Ngoài ra, có một lưu ý là. Càng tham gia sớm thì quyền lợi càng nhiều. Mức phí tham gia càng rẻ. Người mua nên tận dụng những thời điểm vàng khi còn trẻ để tham gia. Tránh để khi tuổi cao phí bảo hiểm tăng, quyền lợi bị loại trừ nhiều.

bảo hiểm nhân thọ

Sự khác biệt ngân hàng và bảo hiểm

Mặc dù có phần giống ngân hàng hay các hoạt động đầu tư khác vì đều được chi trả lãi suất. Nhưng mục đích chính của Bảo hiểm nhân thọ hơn hết lại là bảo vệ cuộc sống của con người. Đây là điều khó có hình thức tài chính nào thay thế được. Thiết nghĩ, trong cuộc sống ẩn chứa nhiều rủi ro như hiện nay. Mỗi gia đình nên tự trang bị cho mình ít nhất một hợp đồng. Để giúp cho cuộc sống của chúng ta trở nên an toàn hơn. Ngay bây giờ, hãy bắt đầu để tìm hiểu thêm về một sản phẩm bảo hiểm nhân thọ bạn nhé. Tìm hiểu thêm tại đây

bảo hiểm nhân thọ

CẢM ƠN QUÝ KHÁCH ĐÃ QUAN TÂM THEO DÕI – MỌI THÔNG TIN CHI TIẾT VUI LÒNG LIÊN HỆ

ĐẠI LÍ TƯ VẤN: 0936.009.008

CHÚC QUÝ KHÁCH SỨC KHỎE & THÀNH CÔNG, TRÂN TRỌNG

Ngọc Tân

Vai trò Bảo hiểm đối với kinh tế & xã hội

Trong đà phát triển của nền kinh tế hiện nay, Bảo hiểm ngày càng chứng mính được vai trò quan trọng của mình đối với đời sống kinh tế xã hội. Vai trò quan trọng của bảo hiểm với tư cách là một loại hình dịch vụ tài chính và là một trong những cơ chế đảm bảo an sinh xã hội trong nền kinh tế quốc dân có thể được kể đến như sau:

1. Chuyển giao rủi ro

Bảo hiểm vận hành giống như một cơ chế chuyển giao rủi ro. Cùng với việc đóng phí bảo hiểm, người được bảo hiểm đã chuyển giao những hậu quả rủi ro về tài chính sang công ty bảo hiểm. Ví dụ: Một người mua một chiếc ôtô trị giá 500 triệu đồng. Đây là sự đầu tư lớn nhất từ trước đến nay của anh ta. Một người lạc quan nhất cũng nhận ra rằng việc đầu tư trên có thể gặp rủi ro. Chiếc xe có thể bị ăn cắp hoặc bị hư hại do tai nạn hoặc hoả hoạn gây ra. Tai nạn có thể gây thương tích nặng cho những người khác. Trong trường hợp đó chủ xe sẽ đối phó với những rủi ro tiềm tàng này cũng như những hậu quả tài chính của chúng bằng cách nào? Anh ta không biết chắc liệu rủi ro có xảy ra hay không và nếu chúng xảy ra hậu quả sẽ là bao nhiêu? Có thể cho tới thời điểm cuối của một năm nào đó sẽ không có sự cố nào xảy ra nhưng cũng có thể ngay ngày đầu năm đó, xe của anh ta bị phá huỷ hoàn toàn. Bằng cách tham gia bảo hiểm, chủ xe đã chuyển giao rủi ro sang công ty bảo hiểm. Khi đó nếu có những tổn thất, thiệt hại xảy ra, công ty bảo hiểm sẽ thực hiện bồi thường. Chủ xe có thể an tâm vì những tổn thất đó đã được chia sẻ.

2. San sẻ tổn thất

Bảo hiểm có tác dụng san sẻ tổn thất tài chính của một số ít người cho số đông nhiều người. Đây là tác dụng hết sức quan trọng của bảo hiểm. Khi số đông tham gia bảo hiểm, không phải tất cả mọi người tham gia đều gặp phải rủi ro tổn thất mà chỉ một số ít người trong đó không may gặp phải rủi ro. Do đó, thông qua việc đóng góp một khoản tiền nhỏ, người tham gia bảo hiểm không những được bảo vệ trước những thiệt hại về tài chính (nếu có) mà còn góp phần hỗ trợ, giúp đỡ những người không may khác. Tác dụng này đã thể hiện rõ nguyên tắc lấy số đông bù số ít và nguyên tắc tương hỗ.

3. Giảm thiểu tổn thất, thiệt hại

Trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ, các công ty bảo hiểm luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng tránh cần thiết để bảo vệ đối tượng bảo hiểm, góp phần đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe con người, của cải và vật chất của xã hội.

Cụ thể:

- Thực hiện hỗ trợ các công cụ phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất ở mức thấp nhất có thể (Ví dụ: Các công ty bảo hiểm tài trợ việc lắp đặt gương phản chiếu giao thông; xây dựng đường lánh nạn tại những tuyến đường nguy hiểm, thường xảy ra tai nạn; yêu cầu những đối tượng khi tham gia bảo hiểm phải thực hiện những biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất như lắp đặt hệ thống báo cháy, chữa cháy¼).

- Giải quyết hậu quả kịp thời giúp khách hàng nhanh chóng ổn định kinh doanh và cuộc sống (Ví dụ: Khi xảy ra rủi ro với đối tượng được bảo hiểm, các công ty bảo hiểm nhanh chóng thực hiện cứu hộ, khôi phục, sửa chữa tài sản thiệt hại, nhanh chóng chi trả, giải quyết quyền lợi cho bên mua bảo hiểm¼)

4. Ổn định chi phí

Nếu không tham gia bảo hiểm, khách hàng có thể tiết kiệm được một khoản chi phí (phí bảo hiểm) giúp giảm chi (nếu các yếu tố khác không đổi). Nhưng thay vào đó họ phải tự mình lập ra những khoản dự phòng (có thể rất lớn) để đề phòng cho những rủi ro, tổn thất có thể sẽ gặp phải trong tương lai, hoặc "chờ đợi" khi rủi ro, tổn thất xảy ra sẽ phải có những khoản chi phí phát sinh (có thể rất lớn) để bù đắp, giải quyết thiệt hại, tổn thất. Như vậy dù bằng cách này hay cách khác, khi không tham gia bảo hiểm, với những rủi ro tổn thất có thể sẽ xảy ra trong tương lai, khách hàng không thể chủ động về mặt chi phí để "đối phó" với những rủi ro, tổn thất này. Ngược lại, khi tham gia bảo hiểm, khách hàng có thể chủ động về mặt chi phí. Bằng việc đóng những khoản phí bảo hiểm (rất nhỏ so với những thiệt hại, tổn thất khi rủi ro xảy ra), khách hàng sẽ được đảm bảo an toàn bởi các công ty bảo hiểm.

Ví dụ: Một công ty chuyên sản xuất kinh doanh đồ chơi cho trẻ em. Trong trường hợp lạc quan nhất, vị giám đốc đó cũng nhận thấy rằng rủi ro có thể đến bất kỳ lúc nào đối với doanh nghiệp của anh ta như mất cắp, hoả hoạn,... Nếu điều đó xảy ra, sẽ gây tổn thất cho công ty, làm gia tăng chi phí, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh. Bằng cách tham gia bảo hiểm, chi phí đầu vào của doanh nghiệp sẽ gia tăng nhưng thay vào đó, họ đã chuyển phần rủi ro cho công ty bảo hiểm, góp phần ổn định chi phí, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh.

5. An tâm về mặt tinh thần

Tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm đã chuyển phần rủi ro của mình sang công ty bảo hiểm nên đã giải toả được nỗi sợ hãi và lo lắng về những tổn thất có thể xảy ra.

Ví dụ:

+ Với một cá nhân: Một người là trụ cột một gia đình với hai con nhỏ, thu nhập của anh khoảng 10 triệu đồng một tháng. Với rất nhiều công việc phải lo toan trong cuộc sống, anh nghĩ rằng: Nếu không may có điều gì đó xảy ra, vợ con mình sẽ ra sao? Họ sống thế nào khi khoản thu nhập của gia đình bị giảm? Bằng cách tham gia bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp cho mình với số tiền bảo hiểm 100 triệu đồng, anh sẽ được an tâm về tinh thần, giải toả những lo lắng đối với gia đình nếu không may những rủi ro thường trực xảy ra.

+ Với một cơ sở sản xuất: Nếu người giám đốc quan tâm, tham gia bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm hỗn hợp cho cán bộ công nhân viên thì không chỉ lãnh đạo đơn vị mà mọi thành viên sẽ yên tâm làm việc, phát triển sản xuất kinh doanh

6. Kích thích tiết kiệm

Bảo hiểm ra đời đã tạo ra một hình thức tiết kiệm linh hoạt, tác động đến tư duy của các cá nhân, hộ gia đình, chủ doanh nghiệp, góp phần hình thành nên một ý thức, thói quen về tiết kiệm một phần thu nhập để có một tương lai an toàn hơn. Hơn thế nữa trong bảo hiểm nhân thọ có những hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính bảo vệ, vừa mang tính tiết kiệm. Khi không có rủi ro xảy ra, khoản phí bảo hiểm khách hàng đóng có tính chất như những khoản tiền được tích lũy định kỳ. Hay nói cách khác, khi không có rủi ro xảy ra, bảo hiểm là một trong những hình thức tiết kiệm hiệu quả cho khách hàng.

7. Đầu tư phát triển kinh tế

Một trong những đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là phí nộp trước, việc bồi thường, chi trả tiền bảo hiểm chỉ được thực hiện khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra. Do vậy, các công ty bảo hiểm có một quỹ tiền tệ tập trung khá lớn. Lượng vốn này sẽ được các công ty bảo hiểm tính toán đầu tư sao cho có hiệu quả bởi lẽ khả năng cạnh tranh của mỗi công ty bảo hiểm phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả hoạt động đầu tư. Trên cơ sở của kết quả đầu tư, các công ty sẽ có điều kiện giảm phí để từ đó thu hút khách hàng, đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế. Các tổ chức bảo hiểm đầu tư vào nền kinh tế theo nhiều kênh khác nhau, trong đó có thị trường bất động sản, thị trường vốn và đặc biệt là thị trường chứng khoán.

Ví dụ: Bảo Việt hàng năm đã thực hiện đầu tư dưới nhiều hình thức trên thị trường tài chính Việt Nam: Bảo Việt tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán qua công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt; tham gia góp vốn vào Công ty vui chơi giải trí Hồ Tây, Ngân hàng thương mại cổ phần hàng hải, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu; mua trái phiếu Kho bạc Nhà nước...

8. Tạo công ăn việc làm

Xét trên bình diện vĩ mô, bảo hiểm đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Ví dụ: Ở Pháp, hoạt động bảo hiểm thu hút khoảng 1% dân số đất nước. Điều đó chứng tỏ hoạt động bảo hiểm là lĩnh vực thu hút lao động xã hội không nhỏ. Ngoài ra, thông qua đầu tư dưới nhiều hình thức, bảo hiểm còn gián tiếp tạo thêm nhiều việc làm cho các ngành khác.

Nguyên tắc trong bảo hiểm phải tuân theo

Bạn đã biết đến 6 nguyên tắc của bảo hiểm chưa? Đó là những nguyên tắc nào và nó ảnh hưởng trực tiếp như thế nào đến quyền lợi bảo hiểm của bạn?... Tìm hiểu và nắm rõ những nguyên tắc bảo hiểm để tuân thủ sẽ tránh được rất nhiều rủi ro không đáng có đặc biệt là trường hợp mất quyền lợi bảo hiểm. Vậy có những nguyên tắc bảo hiểm nào và cần lưu ý những gì? Bài viết sau đây sẽ giúp bạn khỏi những băn khoăn đó.

Nguyên tắc trung thực tuyệt đối trong bảo hiểm

Nguyên tắc trung thực tuyệt đối được áp dụng trong quá trình kê khai thông tin cá nhân của người được bảo hiểm và bên mua bảo hiểm. Đây có thể coi là nguyên tắc quan trọng nhất bởi đó là cơ sở để công ty bảo hiểm đưa ra quyết định có chấp thuận hay không và chi trả những quyền lợi nào.

Mỗi một sản phẩm của từng công ty bảo hiểm sẽ có những quy định riêng về các thông tin cần khai báo trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm. Ví dụ:

Với sản phẩm bảo hiểm cho tài sản như bảo hiểm ô tô, người mua cần khai báo chính xác nhà sản xuất ô tô, loại xe, năm sản xuất, mục đích sử dụng, số Km đã sử dụng… Bảo hiểm nhà cần khai báo chính xác loại hình ngôi nhà, giá trị ngôi nhà, năm xây dựng, giá trị tài sản bên trong, độ rộng con đường…

Với sản phẩm bảo hiểm con người sẽ có sự khác biệt về độ chi tiết, khắt khe hơn về thông tin của người được bảo hiểm. Bảo hiểm ung thư của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ chỉ cần khai báo đúng tên tuổi, ngày tháng năm sinh, giới tính mà không cần đi khám sức khỏe nhưng cần trả lời trung thực các câu hỏi về lịch sử bệnh ung thư như trong gia đình có từ 2 người trở lên đã từng mắc ung thư không? hay người được bảo hiểm đã từng hoặc có đang trong quá trình kiểm tra, có khối u, ung thư, phát triển ung thư biểu mô tại chỗ của bất kì loại ung thư nào không?

Khi tham gia bảo hiểm sức khỏe cũng không cần khám sức khỏe nhưng điền đúng thông tin để tính phí như số người tham gia, ngày tháng năm sinh của từng người, giới tính, chọn chương trình chính và mở rộng...

Riêng với bảo hiểm nhân thọ tùy từng đối tượng có thể cần khám sức khỏe hoặc không nhưng tất cả các thông tin cần khai báo đầy đủ và trung thực kể cả lịch sử sức khỏe của gia đình: Họ và tên, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, giới tính, quốc tịch, tình trạng hôn nhân, mối quan hệ với người được bảo hiểm, công việc, nghề nghiệp, cơ quan, thu nhập…

Ngoài ra người được bảo hiểm cần khai báo thêm chiều cao, cân nặng, cân nặng lúc sinh (nếu cần), và trả lời trung thực các câu hỏi như: đã từng được chẩn đoán, điều trị hoặc mắc các triệu chứng như đau ngực, khó thở, suy tim, suy hô hấp, ho kéo dài, vàng da, co giật, hôn mê, run chân tay….

Nguyên tắc số đông bù số ít trong bảo hiểm

Hoạt động của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm thương mại nói riêng đều theo nguyên tắc số đông bù số ít, đây là nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm. Khi nhiều người trong một cộng đồng có cùng rủi ro, cùng tham gia đóng góp vào quỹ dự trữ tài chính do doanh nghiệp bảo hiểm quản lý để chia sẻ và hỗ trợ tài chính kịp thời cho ai đó không may mắn nhằm giảm thiểu tối đa tổn thất mà người đó phải chịu.

Theo đó cộng đồng càng đông người tham gia thì tỷ lệ rủi ro càng giảm, điều này làm cho mức phí bảo hiểm phải đóng của mỗi người cũng giảm theo nhưng vẫn đảm bảo được hoạt động của quỹ tài chính chung. Tuy nhiên những người cùng tham gia vào một cộng đồng không cần biết nhau mà chỉ cần dựa trên cơ sở tin cậy và sự đảm bảo của doanh nghiệp quản lý quỹ tài chính thông qua những quy tắc và điều khoản của hợp đồng bảo hiểm.

Chính vì vậy, tất cả các trường hợp khai báo không trung thực và trục lợi bảo hiểm sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của những người còn lại và khả năng chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm nên các doanh nghiệp luôn luôn siết chặt và đảm bảo tính trung thực của người tham gia.

Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm

Theo Khoản 9, Điều 3, Luật kinh doanh bảo hiểm: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.

Và theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm đã phân tách rõ giữa quyền lợi có thể được bảo hiểm của hiểm con người và bảo hiểm tài sản. Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm con người là quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng và các quyền lợi khác đối với người được bảo hiểm, nếu được doanh nghiệp bảo hiểm chấp thuận hoặc pháp luật có quy định. Còn trong bảo hiểm tài sản là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản đối với đối tượng bảo hiểm.

Nguyên tắc khoán

Nguyên tắc khoán được hiểu là số tiền chi trả của công ty bảo hiểm cho người tham gia được ấn định trước trong hợp đồng bảo hiểm. Nguyên tắc khoán áp dụng trong hầu hết các sản phẩm bảo hiểm con người trong đó có bảo hiểm nhân thọ.

Ví dụ: khách hàng tham gia sản phẩm với Số tiền bảo hiểm 300 triệu. Khách hàng có thể nhận quyền lợi lên đến 325% số tiền bảo hiểm khi được chẩn đoán mắc bệnh lý nghiêm trọng ở bất kỳ giai đoạn nào, tương ứng với số tiền 975 triệu.

Nguyên tắc bồi thường

Nguyên tắc bồi thường được hiểu là sự bù đắp thiệt hại của doanh nghiệp bảo hiểm khi có rủi ro xảy ra nhằm khắc phục hậu quả cho người tham gia.

Nguyên tắc bồi thường đảm bảo người tham gia không thể nhận được số tiền chi trả nhiều hơn mức độ tổn thất mà họ gánh chịu. Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng trong bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

Nguyên tắc nguyên nhân gần

Nguyên nhân gần là nguyên tắc phức tạp nhất vì thế Tôi xin phép trích đoạn dịch của tác giả Doãn Quỳnh Trang trên trang Kiến thức bảo hiểm như sau:

“Nguyên nhân gần là nguyên nhân tích cực đủ sức gây ra sự vận hành một chuỗi các sự cố dẫn đến một kết quả không bị một lực từ bên ngoài nào can thiệp vào, mà lực ấy có nguồn gốc độc lập, mới, phát sinh và hoạt động tích cực.”

Qua 6 nguyên tắc bảo hiểm trên, khách hàng không chỉ hiểu hơn về các sản phẩm bảo hiểm, ngành bảo hiểm mà còn nâng cao được trách nhiệm của bản thân đối với chính số tiền mình tham gia vào bảo hiểm và với cộng đồng những người cùng chia sẻ rủi ro.

Bài hài lòng bài viết này chứ?

5/5 (1 lượt bình chọn)